Quy định về bán nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước – P5

Điểu 40. Quy định về việc chuyển đổi công năng sử dụng nhà ở sinh viên thuộc sỏ hữu nhà nước

1. Việc chuyển đổi công năng sử dụng nhà ở sinh viên thuộc sở hữu nhà nước chỉ được thực hiện khi có một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 25 của Nghị định số 34/2013/NĐ-CP.

Quy định về bán nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước - P5 1

Quy định về việc chuyển đổi công năng sử dụng nhà ở sinh viên thuộc sỏ hữu nhà nước

2. Trình tự, thủ tục chuyển đổi công năng nhà ở sinh viên được thực hiện theo quy định sau
đây:
a) Cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà ở sinh viên phải lập hồ sơ về nhà ở đề nghị chuyển đổi công năng báo cáo Bộ Xây dựng xem xét, thẩm định. Hồ sơ đề nghị chuyển đổi công năng nhà ở bao gồm:
– Báo cáo hiện trạng sử dụng nhà ở sinh viên tại thời điểm đề nghị chuyển đổi công năng;
– Báo cáo thuyết trình lý do chuyển dổi công năng sử dụng nhà ở và các giấy tờ chứng minh sự cần thiết phải chuyển đổi công năng;
– Quyết định của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết khu vực nhà ở sinh viên phải chuyển đổi công năng (nếu có);
– Phương án quản lý, sử dụng nhà ở sinh viên sau khi chuyển đổi công năng;
– Các giấy tờ khác có liên quan (nếu có).
b) Trên cơ sở hồ sơ do đại diện chủ sỏ hữu nhà ở sinh viên cung cấp, Bộ Xây dựng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức kiểm tra, thẩm định hồ sơ và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định cho phép chuyển đổi công năng;
c) Sau khi có Quyết định cho phép của Thủ tướng Chính phủ thì đại diện chủ sở hữu nhà ở sinh viên được thực hiện việc chuyển đổi công năng nhà ở theo quy định.

3. Trường hợp cơ quan dại diện chủ sở hữu có nhu cầu bán nhà ở sinh viên đã chuyển đổi công năng sử dụng thì phải có văn bản báo cáo Bộ Xây dựng thẩm định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép trước khi thực hiện bán nhà ở. Trình tự, thủ tục bán nhà ở này được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 41. Quy định xử lý chuyển tiếp việc thực hiện bán nhà ỏ cũ thuộc sỏ hữu nhà nước
1. Đối với trường hợp nhà ở hoặc nhà không có nguồn gốc là nhà ở nhưng đã bố trí sử dụng trước ngày 27 tháng 11 năm 1992 mà người thuê đã nộp đơn đề nghị mua nhà ở trước ngày Nghị định số 34/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì việc xử lý chuyển tiếp được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp đến ngày Nghị định sô’ 34/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành mà các bên đã kỷ hợp đồng mua bán nhà ỏ thì tiếp tục hoàn tất nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo hợp đồng đã kỷ và bên bán có trách nhiệm chuyển hồ sơ mua bán nhà ở sang cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận để thực hiện cấp Giấy chứng nhận cho bên mua nhà ở theo thủ tục được quy định trước ngày Nghị định số 34/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành;

b) Trường hợp đến ngày Nghị định số 34/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành mà bên bán nhà ở mới thực hiện phê duyệt, tính giá bán nhà ở, giá chuyển quyền sử dụng đất và chưa kỷ hợp đồng mua bán nhà ở thì cơ quan quản lý nhà ở không phải thực hiện thủ tục xác định lại giá bán nhà ở, giá chuyển quyền sử dụng đất và không phải trình cơ quan đại diện chủ sỏ hữu ban hành Quyết định bán nhà ỏ. Cơ quan quản lý nhà ở có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu nhà ở đủ điều kiện được bán theo quy định của Nghị định số 34/2013/NĐ-CP thì thực hiện ký hợp đồng mua bán nhà ở với người mua theo giá đã phê duyệt và có trách nhiệm hoàn tất các thủ
tục mua bán nhà ở còn lại theo quy định của Nghị định số 34/2013/NĐ-CP và Thông tư này.
Nếu nhà ở không đủ điều kiện được bán thì cờ quan quản lý nhà ở phải có văn bản thông báo rõ lý do để đơn vị quản lý vận hành nhà ở trả lời cho người nộp hồ sơ biết;

c) Trường hợp người mua đã nộp đơn đề nghị mua nhà ở trước ngày Nghị định số 34/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành nhưng không thuộc diện quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này thì việc bán nhà ở được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định sô’ 34/2013/NĐ-CP và Thông tư này nhưng áp dụng cơ chế, giá bán nhà ở cho người đang thuê theo Nghị định số 61/CP về mua bán và kinh doanh nhà ở, Nghị quyết số 23/2006/NQ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo quy định tại Nghị định số 61/CP và Nghị quyết số 48/2007/NQ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ về việc điều chỉnh một số nội dung chính sách bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định sô’ 61/CP.
Trong trường hợp người nộp đơn dã nộp kèm hồ sơ đề nghị mua nhà ở thì cơ quan quản lý nhà ở phối hợp kiểm tra và chỉ yêu cầu người nộp đơn bổ sung các giấy tờ còn thiếu theo quy định của Nghị định sô’ 34/2013/NĐ-CP và Thông tư này; nếu hồ sơ đã dủ giấy tờ thì thực hiện giải quyết theo thủ tục quy định tại Thông tư này. Trường hợp người đề nghị mua nhà ở mới chỉ nộp đơn thì đơn vị quản lý vận hành nhà ở thông báo để người nộp đơn bổ sung các giấy tờ còn thiếu theo quy định của Thông tư này để thiết lập hồ sơ trước khi báo cáo cơ quan quản lý nhà ở xem xét.

2. Đối với trường hợp nhà ở hoặc nhà không có nguồn gốc là nhà ở nhưng đã bô’ trí sử dụng trước ngày 27 tháng 11 năm 1992 mà người thuê nộp đơn đề nghị mua nhà ở sau ngày Nghị định sô’ 34/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì cơ quan quản lý nhà ỏ thực hiện giải quyết bán nhà ở này theo cơ chế, giá bán và thủ tục quy định tại Nghị định sô’ 34/2013/NĐ-CP.

3. Đối với trường hợp nhà ở hoặc nhà không có nguồn gốc là nhà ở nhưng đã bô’ trí sử dụng từ ngày 27 tháng 11 năm 1992 đến trước ngày 19 tháng 01 năm 2007 (kể cả trường hợp đã nộp đơn đề nghị mua nhà ở trước và sau ngày Nghị định sô’ 34/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) thì cơ quan quản lý nhà ở thực hiện bán nhà ở này theo cơ chế, giá bán và thủ tục quy định tại Nghị định sô’ 34/2013/NĐ-CP.